Monday, May 14, 2018

Cháu Loan và Chị Cố Đại Úy Đặng Tấn Nghiệm từ VN thăm Sacramento California

Happy Motherday !!!

Anh Chị NT Mục Sư Tống Hồ Huấn từ New Zealand về thăm Nam California Mother Day 2018

 Anh Tống Hồ Huấn, Anh Chị Võ Hòa và anh Lưu Văn Thuần

 Xế mới của Thiếu Úy Võ Hòa
 Phạm Hòa, Võ Hòa, Chị Nam, Chị Hồng, Anh Huấn và Anh Thương

 Chị Hồng và Chị Nam




 Các con và rễ anh Thương


Sunday, May 13, 2018

43 Năm Một Việt Nam Hải Ngoại - Vi Anh

Ngày 27 tháng 3, 2018, TT Trump đã chính thức viết thư hồi đáp cho Cộng Đồng Người Việt Quốc gia Liên Bang Hoa kỳ, đặc biệt nhấn mạnh vấn đề ngoại giao và an ninh quốc gia. Đại ý, “Thưa BS, Cám ơn ông đã bỏ thì giờ bày tỏ sự nhận định của ông liên quan đến ngoại giao và an ninh quốc gia. Nhiệm vụ của chính phủ Hoa Kỳ là bảo vệ quốc gia và nhân dân Hoa Kỳ, tạo sự thịnh vượng, gìn giữ hòa bình trong thế mạnh, và gia tăng sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Chiến lược An Ninh Quốc Gia của chúng tôi trình bày và giải thích phương thức thực hiện 4 điểm then chốt của quyền lợi quốc gia nói trên. Nó dựa trên sự đánh giá với viễn kiến trong sáng về quyền lợi của chúng ta và sự xác định để nắm chắc những thách thức mà chúng ta đang đối đầu. Nó xác nhận những tranh chấp về quân sự, kinh tế, chính trị mà chúng ta phải tham dự để bảo vệ những lợi ích và giá trị của Hoa Kỳ. Chính phủ của tôi rất tự tin trong trận chiến này…Chúng tôi cam kết bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân và đời sống của người dân Hoa Kỳ.”

Trở lại Little Saigon, giữa tháng Tư 2018, đi một vòng Little Saigon ở Nam Cali, nhìn sinh hoạt, nghe lời nói, gặp mặt, nhìn người tưởng đâu mình đang ở Saigon thủ đô VN Cộng Hoà 43 năm trước đây. Đường sá thì có Trần hưng Đạo, Quang Trung. Tượng đài có Đức Trần Hưng Đạo, Vua Quang Trung Nguyễn Huệ vang danh lịch sử Việt, và Tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ chống CS đầu tiên ở Mỹ. Ngày thượng quốc kỳ VN nền vàng ba sọc đỏ phất phới trước các cơ quan đoàn thể, còn ngày lễ lớn nhứt là thời gian tưởng niệm 30 tháng Tư, quốc kỳ Việt, Mỹ rợp trời như thời Việt Nam Cộng Hoà.
Hàng quán, cơ sở báo chí, dịch vụ, thương mại bảng hiệu tiếng Việt xanh, đỏ, trắng, vàng khắp chốn. Trên đường, ngã tư, ngã ba, những chỗ ưa nhìn, bích chương biểu ngữ ứng cử họ tên tiếng Việt sáng rực khắp nơi. Bụng đói vào tiệm ăn, tô phở, tô hủ tiếu, Mì Quảng, bữa cơm cá kho tộ, canh chua Miền Nam, canh cá thì là Miền Bắc, mùi vị quê hương thấm thía như thời ở Việt Nam. Nhưng thịt cá ở Mỹ ngon ngọt, mềm mại hơn lúc ở quê nhà, giá lại rất rẻ so với đồng lương căn bản tối thiểu ở Mỹ, người lao động bình dân làm một giờ ăn một ngày không hết.
Ngoái nhìn lại, thế mà đã 43 năm thấm thoát trôi qua ngày người Việt bắt đầu cuộc di tản đầy gian nguy, khốn khó nhưng vô cùng thành đạt, vinh quang, vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt Nam. Một cuộc di tản tỵ nạn CS làm lương tâm Nhân Loại chấn động, cộng đồng thế giới bàng hoàng. Liên Hiệp Quốc và các cường quốc xem công tác cứu giúp người Việt vượt biên, vượt biển, là một công tác lớn nhứt thế kỷ 20. Hầu hết các siêu cường trên thế giới, đặc biệt thuộc văn minh Tây Phương đều có nhận cho người Việt tỵ nạn CS đến định cư. Nước Mỹ là nước dang tay ra đón người Việt tỵ nạn CS nhiều nhứt. Anh văn thêm một danh từ mới “boat people”, thuyền nhân. Trong thế giới sử, chưa có một nước đồng minh nào như Mỹ, sau mấy chục năm chiến tranh đã chấm dứt mà còn cứu khổn phò nguy, giúp cho định cư những đồng đội, đồng minh và gia đình sa cơ thất thế. Người Việt nhâp cư vào nước Mỹ bằng một đạo luật long trọng, hiến định của Mỹ do Quốc Hội thông qua và Tổng Thống ban hành.
43 năm cuộc hành trình ấy đầy thành công mỹ mãn, làm vẻ vang dân Việt. Một dân tộc VN yêu tự do, dân chủ, xây dựng nhân quyền đã rõ rệt trưởng thành trong lòng văn minh Tây Phương, trải dài từ Tây Âu, sang Bắc Mỹ, xuống Úc Châu. Một VN Hải Ngoại (Việt Nam d'Outre Mer) đã thành hình, như Pháp Quốc Hải Ngoại (France d' Outre- Mer) trong thời Đức Quốc Xã tạm chiếm nước Pháp, đã đấu tranh đem lại tự do, dân chủ cho nước nhà Pháp.
Về chánh trị, thế quốc tế của VN Hải Ngoại có chánh nghĩa hơn chế độ CS Hà nội vì CS Bắc Việt cưỡng chiếm lãnh thổ, cướp chánh quyền, độc tài đảng trị toàn diện nên không lãnh đạo được nhân dân, không thống nhứt được dân tộc. Quốc Hội Liên Âu, Mỹ, Úc, trái tim của nhân dân và chánh quyền tiến bộ các nước tự do, dân chủ trên thế giới đứng về phía chánh nghĩa đấu tranh cho tự do, dân chủ của người Việt Hải Ngoại, trong thời đại kinh tế tự do toàn cầu và chánh trị dân chủ hóa hoàn vũ được tiến bộ khoa học kỹ thuật của thời đại văn minh Tin Học yểm trợ.
Quốc kỳ VN Cộng Hòa đã được chánh quyền địa phương, hàng chục tiểu bang, hàng trăm quận hạt, thành phố Mỹ công nhận như biểu tượng tự do, dân chủ của người Mỹ gốc Việt. Người Việt tại nhiều nước trên thế giới đã đi vào dòng chánh chánh trị, chánh quyền, quân đội, khoa học kỹ thuật, thể dục thể thao, nghệ thuật thứ bảy, truyền thông của Tây Phương.
Về kinh tế, người Việt đã vượt qua rất nhanh thời kỳ chân ướt chân ráo mới lên khỏi tàu (fresh off boat) nơi quê hương mới, một cách thần kỳ. Tự do, dân chủ rõ rệt là điều kiện tiên quyết của phát triển kinh tế. Mỗi năm người Việt Hải Ngoại chỉ gởi cho không để giúp bà con cô bác, bạn bè – chơi chơi thôi – con số đã trên bảy, tám tỷ Đô la. Theo thông lệ số tiền gởi cho của những người định cư ở Mỹ như dân Hispanics, Phi luật Tân, Trung Đông, số tiền cho chỉ chiếm dưới 5% của số tiền kiếm được. Lợi tức đồng niên hải ngoại tính trên đầu người nhiều hơn cả trăm lần trong nước. Theo Ngân Hàng Thế giới trung bình một người Việt trong nước chưa đến 500 Đô/năm.
Về văn hóa xã hội, tại Mỹ cũng như tại Tây Âu, Úc Châu, tuy chưa có số thống kê khoa học, con số ước lượng người Việt Hải Ngoại tốt nghiệp đại học 4 năm trên 25% dân số hải ngoại. Nói gọn cứ 4 người Việt Hải Ngoại thì có 1 người tốt nghiệp đại học 4 năm tại các trương đại học trình độ giảng huấn văn hóa, khoa học, kỹ thuật rất cao và thực dụng. Chất xám của người Việt Hải Ngoại là cái CS Hà nội thèm muốn nhứt, nhưng dù khan cổ gọi mời, nhưng trí thức VN Hải Ngoại đi VN thăm quê hương, thăm người thân thì có, ở lại với CS thì không.
Tiếng Việt hải ngoại đã tiến triển theo dòng tiến hóa của ngôn ngữ, tiếp nối dòng ngôn ngữ Việt Quốc gia của bao thời kỳ độc lập VN, Ngô,Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, đệ nhứt, đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa, và vẫn trường tồn và phát triển sau ba lần Bắc Thuộc, một lần Pháp Thuộc, và CS đọa đày. Tiếng Việt Hải ngoại biến những từ CS như “hồ hỡi, phấn khởi, ưu việt, nhứt trí, đồng tình”, thành tử ngữ hay từ ngữ tiếu lâm. Đồng thời phát huy thêm những chữ nghĩa liên quan đến chánh trị tự do, dân chủ và khoa học kỹ thuật là những chữ VN còn thiếu vì hoàn cảnh lịch sử và chiến tranh của nước nhà trước năm 1975.
Kỷ niệm Ba Mươi Tháng Tư mỗi năm là cơ hội người Việt Hải Ngoại tự xét một cách nghiêm khắc, khách quan nhưng đầy tin tưởng lạc quan. Niềm vui và hy vọng vươn lên với niềm tin sẽ hoàn thành lời hứa đem lại tự do, dân chủ cho đồng bào còn bị kẹt ở lại, lúc gạt nước mắt rời đất nước ra đi.
Sau cùng người Việt ty nạn khác với người ra đi của nhà thơ lãng mạn Pháp đã viết “Ra đi là chết một hai phần nào” (Partir c'est mourir un peu). Người Việt ra đi để tạo một bản hùng ca, một chương hùng sử Việt, tìm tự do, khôi phục, thực hiện lại niềm tin, chánh nghĩa đã bị CS tước đoạt, như Charles De Gaulle đã làm đối với Đức quốc xã. Đó là tự do, dân chủ, nhân quyền VN cho quốc gia, dân tộc VN.(VA)

Saturday, February 3, 2018

ĐÀ LẠT TRỜI MƯA - Phạm Tín An Ninh

Tôi đến Đà Lạt đúng vào một ngày mưa. Mưa tầm tã. Ngồi trong nhà Thủy Tạ, nhìn những hạt mưa bay giăng kín rừng thông, phủ mờ khu phố Hoà Bình , và rơi lả tả xuống mặt hồ Xuân Hương, tôi mơ hồ như những giọt nước mắt của người góa phụ đã từng một thời nhan sắc.
Người con gái vừa đến gặp tôi làm cho tôi mỉm cười với sự so sánh lạ lùng này. Bởi cô ta cũng xinh đẹp, và dù có nở nụ cười tỏ ra mừng rỡ khi chào tôi, vẫn không giấu được nét buồn trong đôi mắt. Một nỗi buồn có cái gì xót xa sâu lắng lắm.
Tôi đã đến thành phố này nhiều lần. Lần cuối cùng vào mùa Giáng Sinh năm 1970, khi đơn vị tôi may mắn được lệnh về đây phối họp hành quân giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường. Bao nhiêu năm trong rừng núi tây nguyên gió lạnh mưa mùa, rồi xuống bờ biển Phan Thiết với những động cát trơ trọi nóng như lửa đốt, bất ngờ được về Đà lạt, cho dù chỉ sau một ngày ở thành phố, đơn vị tôi lại được đổ xuống những rừng thông xa tít, nhưng đám lính tráng bọn tôi vẫn có cái cảm giác như được đi nghỉ mát. Người ta nói đúng, Đà Lạt dễ thương như những cô gái với gò má trắng hồng và đôi môi mộng đỏ để ai một lần lên xứ Hoa Đào mà lòng không vấn vương. Đà lạt cũng là nơi có nhiều huyền thoại về những mối tình đẹp và buồn của các cô sinh viên với những chàng trai mang alpha đỏ theo nghiệp kiếm cung, mà tôi đã đọc được trong những bài thơ thật buồn của Lệ Khánh từng vang tiếng một thời.
Nhưng đó là Đà Lạt của ngày xưa. Còn hôm nay tôi đến Đà Lạt, với ngổn ngang những nỗi buồn nặng trĩu trong lòng, và Đà Lạt bây giờ chỉ là một thành phố chết.
Tôi ra tù, trong thời gian còn bị quản chế, trong túi không có bất cứ một tờ giấy nào. Ngay tấm “Giấy Ra Trại” cũng đã bị công an xã giữ. Nhờ thằng em cùng đơn vị cũ, có lò bánh mì ở Tháp Chàm, gởi tôi theo một chiếc xe bộ đội nhận mối chở bánh mì với tiền thù lao khá, tôi mới có mặt ở đây. Anh tài xế sau khi giao mấy thùng bánh mì, còn gởi tôi cho cô “chủ nhiệm” quán Thủy Tạ (bây giờ là của nhà nước), bảo là ông anh họ, để tôi yên lòng không bị hỏi giấy tờ. Quán vắng tanh.Tôi chọn cái bàn nhỏ xa phía trước và gọi hai tách trà nóng. Tôi cũng chỉ đủ tiền để trà hai tách trà này.
- Anh chờ em có lâu không ?
Tôi giật mình khi nghe cô gái hỏi.
- Không sao, tôi chờ cũng đã khá lâu, nhưng được gặp chị hôm nay là tôi mừng lắm rồi.
Điều mà ai cũng ái ngại khi phải mang tin buồn đến cho một người. Đặc biệt người đó lại lại là một cô con gái đẹp, như cô gái đang ngồi trước mặt tôi đây. Tôi dè dặt:
- Chắc chị đã biết, như trong lá thư tôi gởi. Tôi là bạn tù của Thống, và hôm nay muốn gặp chị là để nhắn lại những điều Thống đã nhờ tôi.
- Em biết là anh Thống đã chết từ năm 1978, nhưng mãi đến năm ngoái , em mới được phường đưa “Giấy Báo Tin”. Em không biết làm sao báo cho mẹ anh ấy biết. Bà ở bên Mỹ nhưng em không liên lạc được.
Tôi bất ngờ, nhưng chợt thấy một chút yên lòng khi nghĩ là cô sẽ không còn đột ngột nhận một tin buồn từ chính miệng của tôi .
- Chị đã biết tin buồn về Thống. Như vậy cũng là may, chứ không phải người tù nào chết mà người nhà cũng được báo tin. Hôm nay, dù hoàn cảnh khó khăn, tôi cũng phải tìm gặp chị đề nói lại cùng chị những lời trăn trối cuối cùng, và trao cho chị những kỷ vật mà anh Thống nhờ tôi trao lại chị.
- Cả tuần nay lòng em rất bồn chồn, mong sớm được gặp anh. Vì em không biết anh Thống chết ở đâu và mồ mả ra sao. Nhiều lần nằm mơ, em thấy anh Thống, nhưng chưa bao giờ nghe anh ấy bảo là anh đã chết.
Tôi lấy trong túi ra để trên bàn một sợi dây đeo một tấm ảnh nhỏ được lồng vào trong cái khung có hình trái tim đẽo bằng gỗ mun -loại gỗ quý mà chúng tôi thường tìm được ở khu rừng Việt Bắc- , một chiếc vòng nhỏ làm bằng nhôm xinh xắn, có khắc đậm sáu chữ Lê Minh Thống & Hà Nhất Anh, và trịnh trọng đứng lên đưa cho cô.
Nhất Anh chính là cô gái, và Minh Thống là tên một người bạn tù của tôi. Anh đã chết sau gần hai năm bị chuyển ra ngoài bắc.
Tôi gặp Thống ở trại Lào Cai, khi hai thằng vừa trong nam mới chuyển ra. Sau hơn một năm cả hai cùng chuyển về trại Hang Dơi thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn và may mắn được “biên chế” về cùng một tổ. Thống tốt ngiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, được chuyển sang không quân, lái phản lực. Trong thời gian học trường Võ Bị, Thống quen Nhất Anh , khi ấy đang là sinh viên của trường Chính trị Kinh Doanh. Thống chỉ còn bà mẹ già và cô em gái ở Sài Gòn. Cuộc tình của cô sinh viên Đà Lạt và chàng cựu sinh viên sĩ quan alpha đỏ kéo dài khá lâu. Hai người đã làm lễ hỏi. Nếu Thống không sang Mỹ học phi hành và nếu không có ngày 30 tháng tư, thì hai người đã làm đám cưới.
Những ngày cuối cùng khi Sài gòn hấp hối, Thống được bạn bè thu xếp hai chỗ trên trực thăng để bay ra hạm đội Mỹ, nhưng Thống lại dành cho mẹ và cô em gái. Gởi mẹ và em cho thằng bạn thân, Thống nói dối với mẹ là anh sẽ đi sau.
Thống liều lĩnh tìm mọi cách chạy về Đà lạt. Chưa kịp đón Nhất Anh, thì Sài Gòn mất. Thống nằm ở nhà Nhất Anh một tuần rồi ra trình diện “uỷ ban quân quản”, nhưng người ta chỉ cấp giấy chứng nhận và ghi là phải về Sài Gòn trình diện chính quyền địa phương ngay. Trở lại Sài Gòn, nhà bị tịch thu, Thống phải ở ké nhà một người bà con trước khi vào trại cải tạo.
Mấy năm trong tù, Thống có liên lạc được với Nhất Anh . Nhưng vài tháng mới nhận được một lá thư ngắn, chỉ hỏi thăm vài câu và khuyên “học tập tốt để sớm được khoan hồng về với nhân dân”. Bao nhiêu nhung nhớ yêu thương đều phải dấu kín ở trong lòng. Trong tờ khai lý lịch, Thống ghi Hà Nhất Anh là vợ, cũng là người thân duy nhất, và địa chỉ của Nhất Anh cũng là nơi anh xin cư trú sau này.
Thống to con đẹp trai, nhưng dường như tình yêu dễ làm cho Thống yếu lòng. Có những ngày đi chặt nứa trong rừng, Thống chỉ ngồi khóc và thì thầm gọi tên người yêu. Mấy lần không mang về đủ nứa, bị phạt cắt bớt một nửa phần ăn vốn đã ít oi, nhưng vẫn không ngăn được nước mắt của Thống. Dường như khi lòng đang thương nhớ ai, thì cái đầu không còn điều khiển đôi tay được nữa. Nhiều hôm tôi phải vận động anh em nhường bớt một chút phần ăn cho Thống, và chia nhau đi lấy thêm nứa cho Thống có đủ chỉ tiêu để không bị phạt.
Thống còn trẻ, nhưng cũng như hầu hết sĩ quan xuất thân từ Đà Lạt, dù ở binh chủng nào cũng kiêu hùng và thăng tiến rất nhanh. Thống nhỏ hơn tôi sáu tuổi, nên xem tôi như người anh. Có điều gì vui buồn, Thống tìm tôi chia sẻ. Tôi luôn an ủi và khuyến khích để anh có thêm nghị lực. Thống có gì khó khăn tôi sẳn sàng hết lòng giúp Thống.
Sau này, đội tù của tôi được phân công đi lấy gỗ về xây dựng hội trường. Họ bắt chúng tôi phải tìm những cây gỗ lớn và thẳng. Có những thân cây lớn đến hai vòng tay ôm không hết. Trời mùa đông với những cơn mưa phùn không dứt, nên những con đường mòn trơn như mỡ, chúng tôi chia từng nhóm hai mươi người vừa kéo vừa bẩy cho từng thân cây lăn theo những con đường mòn ấy từ trên núi cao lao xuống suối để cho nó trôi về bên hông trại.
Ăn uống quá thiếu thốn, đám tù chúng tôi triền miên trong cơn đói. Sức ngày càng yếu mà phải lao động quá nặng nhọc, nên chỉ sau một tuần lấy cây, người nào cũng mệt lả. Một hôm đang lấy sức bật một thân cây xuống bờ suối, Thống mệt quá nên lảo đảo rồi ngã sấp trên thân cây, đúng lúc cây này lăn xuống suối, bật luôn theo Thống. Chúng tôi chỉ còn nghe tiếng hét của Thống trước khi anh bị văng xuống lòng suối nằm sâu dưới vực.
Trời nhá nhem tối, cả hơn bốn mươi thằng tù chia nhau trèo xuống suối đi tìm Thống. Gần nửa giờ sau chính tổ của tôi tìm được Thống. Anh nằm bất động bên bờ suối. Rất may là ở một nơi không có đá. Thống thoi thóp thở, nhưng không còn cử động được.
Chúng tôi nhanh chóng kết một cái bè gỗ, rồi theo dòng suối, cùng nhau đẩy anh về trại. Sau hơn một tiếng đồng hồ trong trạm xá, Thống tỉnh lại, mở hé mắt nhìn mọi người. Khi nhận ra tôi, Thống thì thào:
- Nếu sau này anh còn sống mà về được, nhớ tìm giùm Hà Nhất Anh và nói là em xin lỗi nàng. Mong nàng hãy sớm lấy chồng và quên em đi.
Tôi nắm chặt đôi vai lạnh lẽo của Thống:
- Thống yên chí, tôi sẽ làm bất cứ điều gì mà Thống dặn dò.
Thống cố gắng mở lớn mắt nhìn tôi như cầu khẩn:
- Nhờ anh giữ lại cái vòng nhôm trong balô và tấm ảnh em đang mang trong cổ này, trao lại cho Nhất Anh. Nhớ nói giùm là em xin lỗi cô ta.. xin lỗi cô ta .
Ngày hôm sau, một buổi chiều mưa buồn ảm đạm, dưới sự kiềm soát của hai vệ binh, tôi cùng ba người bạn tù đẩy xác Thống trên một chiếc xe “cải tiến” ra chôn dưới triền núi, bên một hốc đá . Chúng tôi đào huyệt đúng vào lúc cơn mưa trút xuống. Huyệt đào tới đâu thì nước ngập theo tới ấy. Tôi năn nỉ xin hai vệ binh cho chúng tôi tìm một nơi khác cao hơn, và chờ cơn mưa tạnh bớt, nhưng không được đồng ý, mà còn bị quát tháo, bảo phải “chôn khẩn trương lên mà về ngay”.
Tôi phải ngồi đè trên xác Thống, lềnh bềnh trên nước, để cho ba người bạn tù kia lấp đất.
Chuyện xảy ra đã hơn sáu năm rồi. Thời gian có biết bao sự đổi thay. Tôi cũng đã nghe và chứng kiến không ít những điều phản trắc. Không biết bây giờ Nhất Anh đã có chồng chưa và trong cảnh đổi đời kéo theo bao cay đắng, liệu trong lòng cô có còn lưu luyến chút tình xưa.
Đắn đo giây lát rồi tôi cũng quyết định phải nói hết những gì tôi biết và nhất là những điều mà Thống, trước khi trút hơi thở cuối cùng, đã nhờ tôi nếu còn có dịp trở về, hãy nói lại cùng nàng.
Nghe tôi kể xong mọi điều, Nhất Anh vẫn ngồi yên bất động. Im lặng một lúc tôi nghe tiếng nàng khóc. Hai tay nắm chặt các kỷ vật mà tôi vừa trao lại cho nàng. Ngoài trời những cơn mưa càng vần vũ. Tiếng mưa như thấu hiểu được nỗi niềm, từng đợt trút xuống mái nhà Thủy Tạ làm át đi tiếng sụt sùi, để cho nàng khóc. Tôi cũng đã không cầm được nước mắt.
- Em cám ơn anh, và xin lỗi .. em đã không nén được xúc động.
Tôi cũng kịp lấy lại bình tĩnh và tìm lời an ủi nàng:
- Dù sao mọi việc cũng đã qua rồi. Sau cái ngày nước mất nhà tan, biết có bao cảnh chia lìa tang tóc. Thôi thì tôi cầu mong Nhất Anh sớm nguôi được nỗi buồn này và có thêm nhiều nghị lực để mà bước tới, như lời trối trăn của Thống. Nhất Anh còn trẻ mà, còn cả một con đường thật dài trước mặt. Còn tôi, trong hoàn cảnh này, cũng chẳng biết rồi đời sẽ ra sao. Thôi đành phó cho trời đất đẩy đưa.
Nhất Anh vẫn ngồi bất động, không nói lời nào. Nhìn đồng hồ treo trên vách, nhớ tới lời hẹn của anh tài xế, tôi khẽ gọi nàng:
- Chị Nhất Anh ! Chỉ còn 15 phút nữa là anh tài xế sẽ quay lại đón tôi. Sau này nếu chị có cần gì ở tôi, cứ liên lạc với tôi nghe!
Tôi nói cốt chỉ để an ủi thôi. Chứ tôi thì còn khả năng gì mà giúp nàng. Hơn nữa thời buổi nhiễu nhương này, dễ gì mà liên lạc được với nhau.
Nhất Anh lấy tay lau nước mắt, ngước lên nhìn tôi, ngần ngừ vài giây rồi lên tiếng:
- Nhờ anh vẽ lại và hướng dẫn cho em nơi chôn cất anh Thống. Sau này biết đâu có dịp may, em sẽ tìm ra thăm anh ấy.
Tôi đứng lên đến quày trả tiền hai tách trà, và xin một tờ giấy trắng. Tôi ngồi vẽ khá tỷ mỷ và hướng dẫn cho Nhất Anh con đường đến trại tù, và mộ của Thống nằm bên hốc đá trên triền núi, phía sau trại tù chừng một cây số. Cũng may là có cái hốc đá lớn duy nhất, để có thể định hướng được ngôi mộ nằm ở nơi nào giữa vùng rừng núi bao la.
Nhất Anh đứng dậy mặc lại áo mưa, xúc động nói lời chia tay, rồi đạp xe đi. Tôi nhìn theo bóng dáng nhỏ nhắn của nàng lảo đảo xiêu vẹo dưới cơn mưa tầm tã mà ngậm ngùi lo âu cho số phận của nàng. Tôi nghĩ có lẽ không bao giờ tôi còn có dịp gặp lại Nhất Anh.
Mùa hè năm rồi, vợ chồng tôi sang Cali thăm mấy cô con gái, nhân tiện chúng tôi đến thăm gia đình ông anh họ ở thành phố biển San Diego. Giáng Sinh năm 1970, nhân cuộc hành quân bất ngờ ở Đà Lạt, tôi có ghé thăm anh chị,. Khi ấy anh làm ở trung tâm điện lực Đa Nhim và vợ anh là giáo sư dạy trường Bùi thị Xuân Đà Lạt. Anh chị rời Việt Nam từ những ngày Sài Gòn hấp hối, nên cũng đã hơn ba mươi năm rồi bây giờ anh em mới gặp lại nhau. Anh lớn hơn tôi gần mười tuổi, vừa bà con lại vừa là học trò cưng của ba tôi lúc anh còn học ở trường Pháp Việt, nên anh chị rất quý chúng tôi, nhất quyết bắt vợ chồng tôi phải ở lại nhà anh chị một tuần để cùng đi chơi với anh chị. Sau một ngày đi khắp nơi ở San Diego, chúng tôi đi một vòng sang khu nghỉ mát Cancun bên Mexcico. Đến ngày thứ bảy cuối tuần anh chị rủ chúng tôi đi tham dự buổi họp mặt của Hội Đồng Hương Đà Lạt, tổ chức tại Anaheim, gần khu Little Saigon, nhân tiện sau đó anh chị đưa tôi về lại nhà cô con gái ở Fullerton, cũng rất gần nơi ấy. Gia đình anh được giấy mời với bốn chỗ ngồi. Vợ chồng đứa con trai lớn không đi, nhường chỗ cho chúng tôi. Bảo là chú thím ở tận bắc Âu, lâu lắm mới có dịp gặp nhiều đồng hương.
Không ngờ đã rời khỏi quê hương khá lâu, nhưng những người Đà Lạt còn giữ cái tình đồng hương đậm đà như thế. Hội trường không còn một chỗ ngồi. Nghe bà chị nói là họ đã đến từ khắp nơi trên nước Mỹ và Canada, một số từ Úc và Âu châu. Chưa tới giờ khai mạc, mọi người ngồi nói chuyện líu lo với những tiếng cười nghe như dư âm của một thời trai trẻ. Những cô gái với đồng phục áo dài trắng trong ban tổ chức đang chuẩn bị cho bài quốc ca, vẫn còn dáng dấp của Đà Lạt ngày xưa: môi đỏ má trắng hồng .
Chúng tôi ngồi ở dãy bàn đầu dành cho quan khách, cùng với gia đình của hai vị cựu giáo sư Bùi Thị Xuân khác. Trên sân khấu, một cái phông lớn là hình ảnh của khu chợ Hòa Bình và một mảng của hồ Xuân Hương trong sương mù. Tôi thầm phục người họa sĩ Đà Lạt nào đã vẽ bức tranh thật sống động. Tôi có cảm giác như mình đang ở một nơi nào đó trên thành phố thơ mộng một thời này. Ai đó đã nói đúng “người Việt nào ra đi cũng mang theo quê hương”.
Khi nghe cô MC giới thiệu thành phần ban tổ chức cuộc họp mặt hôm nay, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy toàn là phái nữ. Tôi chợt nhớ tới một bài viết nào đó mà tôi đã đọc đươc: Người Việt đến Mỹ, nữ giới thành công hơn là nam giới, và số lượng phụ nữ tham gia vào những hoạt động chính trị, cộng đồng ngày một nhiều hơn. Tôi nghĩ tới Dương Nguyệt Ánh, Lê Duy Loan, những người phụ nữ đã mang đến cho người Việt bao điều hãnh diện. Nhưng đến khi chị trưởng ban tổ chức có đôi lời cùng đồng hương, tôi mới hiểu thêm: Buổi họp mặt này là do các cựu nữ sinh trường Bùi Thị Xuân đảm trách.
Đang vui tôi bỗng ngậm ngùi khi một chị trong Ban Tổ Chức lên trình bày về hoàn cảnh thương tâm của nhà thơ Lệ Khánh. Bây giờ tôi mới biết Lệ Khánh là con gái của phó trưởng ty cảnh sát Đà Lạt và có cuộc hôn nhân thật buồn với một nhà thơ quân đội, lại là sĩ quan cấp tá trong ngành Tâm Lý Chiến. Bao nhiêu điều ấy đã đưa nhà thơ nổi danh một thời của xứ sương mù vào bước đường cùng, phải đi bán hàng rong, bán từng trái cà trái ớt trong cơn bệnh hoạn, và đứa con trai duy nhất phải đi ở mướn cho người ta. Ban tổ chức kêu gọi tình thương của những cựu Bùi Thị Xuân, của những người Đà Lạt cũ. Tôi thầm cám ơn tấm lòng của những người Đà Lạt và nghĩ đây là một việc rất nên làm.
Đến phần văn nghệ, cô MC giới thiệu “nhạc phẩm Ai Lên Xứ Hoa Đào với một giọng hát truyền cảm của một Bùi Thị Xuân ngày trước, đã từng làm điêu đứng bao trái tim học sinh, sinh viên Đà Lạt”.
Lời giới thiệu đó không có một chút cường điệu nào. Giọng hát cất lên cao vút làm cả hội trường im lặng trong khi lòng tôi lắng xuống thẫn thờ. Không phải vì giọng hát truyền cảm, mà vì người hát ấy chính là Hà Nhất Anh, người con gái có một mối tình buồn với người bạn tù của tôi ngày trước. Gần hai mươi năm rồi, khuôn mặt có đôi chút đổi thay, nhưng tôi vẫn nhận ra. Cũng với nhan sắc ấy, nhưng với nụ cười rạng rỡ, không còn nét buồn nào đọng trên đôi mắt.

Thấy tôi nhìn đăm đăm lên sân khấu, bà chị đập vai tôi:
- Bộ có quen hay sao mà nhìn dữ vậy ? Hay lại là một người xưa ?
Tôi quay lại, đúng vào lúc bài hát vừa chấm dứt. Chờ cho những tràng pháo tay, cùng những tiếng la hét lắng xuống, tôi ôm vai bà chị:
- Đúng là có quen, nhưng không phài người xưa của em, mà là hôn thê của một thằng bạn tù của em, đã chết ngoài Bắc ! Chính em là người đã trao lại cho cô ấy những kỷ vật của anh ta, khi em vừa mới ra tù.
- Cô ấy là học trò cũ của chị, để chị gọi cô ấy lại nghe.
Tôi chưa kịp trả lời, thì bà chị đã vẫy tay gọi một cô trong ban tiếp tân nhờ đi mời “ca sĩ Hà Anh”.
Cô đến nhoẻn miệng cười, cúi đầu chào anh chị tôi và các thầy cô giáo cùng bàn, rồi khựng lại khi nhìn vợ chồng tôi, gật đầu nhưng không nói lời nào. Thấy tôi ngồi gần bà chị, nên cô nhìn bà chị như muốn hỏi chúng tôi là ai. Bà chị cười chỉ vào tôi:
- Đã gặp nhau rồi mà không còn nhận ra sao?
Cô nhìn tôi, rồi lắc đầu:
- Xin lỗi, em không nhớ ra .
Tôi có một chút khó chịu trong lòng. Hóa ra người đàn bà cũng dễ quên, ngay cả những kỷ niệm đáng ra phải nhớ trong đời. Giữ lịch sự, tôi nhìn cô:
- Có phải chị là hôn thê của anh Lê Minh Thống ? – Tôi là người đã trao cho chị những kỷ vật của anh ấy ở nhà Thủy Tạ, khi tôi vừa mới ra tù. Chị không còn nhớ?
Cô ta khựng lại giây lát, nhưng rồi lắc đầu:
- Xin lỗi , em không nhớ. Có lẽ anh nhầm em với … ai đó!
Cô chào tất cả mọi người rồi vội vã quay về phía sau sân khấu.
Tôi nhìn sang ông anh bà chị nói cho đỡ ngượng:
- Chắc bây giờ chị ta đang hạnh phúc, nên không muốn nhắc lại chuyện tình xưa.
Trên sân khấu chương trình văn nghệ nối tiếp bằng một hài kịch. Thiên hạ cười ầm ĩ, trong lúc lòng tôi dửng dưng với một chút bẽ bàng .
Buổi họp mặt chấm dứt, tôi theo ông anh bà chị bước ra khỏi hội trường. Trong lòng không còn cái háo hức của lúc mới bước vào đây. Trống rỗng và một chút bực dọc.
Tôi đang đứng chờ ông anh bà chị đi lấy xe, thì một bàn tay đâp trên vai tôi . Quay lại, tôi ngạc nhiên khi nhận ra Hà Nhất Anh. Cô đưa cho tôi mảnh giấy, rồi bảo nhỏ, trước khi chạy nhanh về phía hội trường:
- Em xin lỗi, nhưng Anh nhớ phải đến nghe !
Tôi mở vội tấm giấy ra đọc. Chỉ có số điện thoại và địa chỉ, cùng với một dòng ngắn ngủi: “Suốt ngày mai, chủ nhật, em sẽ chờ anh ở nhà ”
Tôi cảm giác có điều gì lạ lắm. Và dường như cô ta muốn dấu mọi người . Nghĩ như vậy nên tôi không nói lại với ông anh bà chị và ngay cả vợ tôi. Ông anh bà chị đưa vợ chồng tôi về Fullerton, rồi hẹn quay lại sáng thứ bảy tới đưa chúng tôi đi thăm mấy người đồng hương và cũng là học trò cũ của cha tôi ngày trước.
Tôi nhờ cô con gái lớn gọi phôn, hẹn đến gặp vào lúc hai giờ chiều chủ nhật. Cô con gái chở vợ chồng tôi tới trước cổng nhà, sau khi xem đúng địa chỉ, bấm chuông, rồi lái xe đi, bảo khi nào cần gọi cellphone, sẽ quay lại đón.
Một ngôi nhà nhỏ, khá xinh, có trồng nhiều loại hoa Đà Lạt, nằm trong khu Fountain Valley yên tĩnh. Người ra mở cổng là một người đàn ông trẻ, khá bảnh trai với hàng ria mép. Anh gật đầu chào, nở nụ cười rất tươi bắt tay chúng tôi, giới thiệu tên, nói năng lễ phép bặt thiệp:
- Cám ơn anh chị đến thăm. Bà xã em mừng lắm, đợi mong từ sáng tới giờ . Tôi bước vào sân nhà, với một ý nghĩ vừa thoáng trong đầu: Được một người chồng như thế, hèn gì cô ta chóng quên mối tình xưa.
Nhất Anh mang nước ra mời chúng tôi, vui vẻ, thân tình, khác hẳn với Nhất Anh trong hội trường ngày hôm qua. Tôi im lặng, bởi không biết phải nói điều gì, ngồi chờ cô ta lên tiếng trước. Một lúc im lặng, tôi bất ngờ nhìn thấy cô ta khóc. Anh chồng đưa giấy cho cô lau nước mắt .
- Mong anh chị tha lỗi cho em. Ngày hôm qua khi gặp anh, nghe anh nhắc tới anh Thống em xúc động lắm, lại biết chính anh là người đã mang về những kỷ vật của anh Thống nữa. Nhưng hôm qua đông người quá, em không tiện nói.
Tôi đỡ lời:
- Tôi hiểu. Làm sao mà chị có thể quên được mối tình đầu, vừa đẹp lại vừa buồn, nhất là anh Thống đã ở lại và bị chết oan ức cũng vì quá yêu chị. Phải không ?
Rồi quay sang anh chồng, tôi lên giọng như một nhà tâm lý học:
- Ai lại chẳng có mối tình đầu. Và người chồng nào lại không tôn trọng cái kỷ niệm đẹp đó của vợ mình, phải không anh ?
Anh ta không trả lời, chỉ cúi xuống với một chút bối rối.
- Xin lỗi anh. Em không phải là chị Nhất Anh, và cũng không phải là người yêu của anh Thống!
Tôi bất ngờ, vừa ngượng ngùng vừa hụt hẩng khi nghe câu nói của người con gái, mà tôi đã chắc nịch là Hà Nhất Anh. Bây giờ người bối rối lại chính là tôi .
Cô gái hạ giọng:
- Em là em kế của chị ấy và cũng là đứa em duy nhất.
Ba má em chỉ sinh có hai đứa con gái. Chị em giống nhau lắm, nên có nhiều người cũng lầm.
Tôi nhìn cô ngờ vực:
- Tôi nhớ ngày hôm qua khi MC giới thiệu chị lên hát, cũng với tên là Hà- Anh mà ? Tôi nghĩ Hà Nhất Anh, nhưng khi qua Mỹ người ta thường bỏ đi chữ lót.
- Đúng ra tên em là Hà Nhị Anh, nhưng bây giờ trong giấy tờ, em mang tên chị em: Hà Nhất Anh , mà Nhất Anh hay Nhị Anh gì sang đây, như anh nói, cũng đều gọi Hà Anh như nhau mà anh…
Đến lúc này thì tôi không còn hiểu gì nữa.
Cô ta đứng lên nhoẻn miệng cười và mời vợ chồng tôi theo cô lên từng trên, cô bảo:
- Anh chị cứ theo em lên trên này thì hiểu nhiều hơn .
Ba tấm ảnh để trên bàn thờ nhỏ. Tôi nhận ra Thống và Nhất Anh, mặc dù lúc chụp những tấm ảnh này hai người còn rất trẻ. Còn tấm ảnh thứ ba, một người con gái khác, tôi không nhận ra ai. Tôi chưa kịp hỏi thì cô gái lại sụt sùi:
- Chị Nhất Anh đã chết khá lâu rồi anh ạ. Vào một ngày mùa đông mưa tầm tã, chị ấy đạp xe đi đâu không biết, cả nhà chờ cơm tới tối vẫn chưa thấy về. Từ trước chị không bao giờ đi đâu một mình vào buổi tối. Cả nhà em và mấy người bạn hàng xóm chia nhau đi tìm. Em đạp xe đi khắp nơi. Trời mưa lớn quá nên em lạnh cóng. Đường xá vắng tanh không một bóng người. Cuối cùng thì chính em tìm ra chị ấy. Chị nằm bất động bên bờ hồ Xuân Hương, không xa nhà Thủy Tạ bao xa.
Tôi giật mình hoảng hốt:
- Ở gần nhà Thủy Tạ, bên bờ hồ Xuân Hương ? Rồi có tìm được chiếc xe đạp và cái gì nữa không ?
- Chiếc xe đạp rớt xuống hồ, ngày hôm sau người ta mới tìm thấy.
- Và chị đã chết ? Tôi hỏi
- Không, khi ấy thì chị còn sống, nhưng bất tỉnh và mình mẩy thì lạnh cóng. Vào bệnh viện, nửa giờ sau chị tỉnh lại, nhưng rất yếu chưa nói được. Khi thay áo cho chị, em thấy trong túi áo có một sợi dây đeo cổ có tấm ảnh của chị và một chiếc vòng nhôm có khắc tên chị và tên anh Thống.
- Không có tờ bản đồ vẽ trại tù và nơi mộ anh Thống?
- Có chứ ! Chính nhờ tấm bản đồ đó mà vợ chồng em, cách nay ba năm về Việt Nam, ra tận nơi tìm được, rồi thuê người lấy hài cốt của anh Thống mang về chôn trên Đà Lạt . Cám ơn anh đã vẽ cái bản đồ khá chi tiết và chính xác.
- Còn chị Hà Nhất Anh ?
- Hai tuần sau, chị khá hơn nhiều, nói năng tỉnh táo, bệnh viện cho xuất viện bảo về nhà điều trị, bồi dưỡng là chị sẽ khỏe thôi. Nhưng không ngờ về nhà mấy hôm thì lên cơn sốt nặng rồi hôn mê trở lại. Đưa vào bệnh viện thì chị mất. Người ta bảo là chị bị sưng phổi cấp tính. Mà thời ấy có thuốc men gì đâu mà chửa. Trong mấy ngày tinh táo, chị thường nhắc tới anh Thống, năn nỉ ba má em tìm mọi cách đem anh Thống về Đà Lạt, và báo cho mẹ anh ấy biết. Lúc trước bà thương quí chị lắm, nên chị cũng rất thương và lo lắng cho bà, khi em gái anh Thống vừa quá trẻ lại vừa yếu đuối. Không ngờ đó lại là những lời trăn trối của chị.
Tôi thầm nghĩ, chính vì đi gặp tôi hôm ấy mà Nhất Anh chết. Chắc cô đã xúc động nhiều lắm. Lòng tôi chùng xuống. Tôi có cái cảm giác đau đớn như vừa có những nhát chém vô hình nào đó trong lòng mình. Tôi lấy lại bình tĩnh:
- Như vậy là bây giờ mộ của Thống nằm trên Đà lạt .
- Dạ . Anh nằm bên cạnh chị Nhất Anh. Vợ chồng em mua lại mảnh đất tư gần khu rừng Ái Ân. Từ đó anh Thống có thể nhìn thấy Trường Võ Bị của anh lúc xưa và đỉnh núi Lâm Viên mà anh đã từng chinh phục.
- Đồi thông hai mộ . Tự dưng tôi buột miệng.
Đến lúc này tôi mới thấy cô nhoẻn miệng cười:
- Sau ngày 30 tháng 4/75, ở Đà lạt có khá nhiều “đồi thông hai mộ”. Có dịp anh chị về Đà Lạt, ghé lại Rừng Ái Ân hỏi thăm, là người ta biết hai ngôi mộ của anh chị Thống-Anh.
- Thế rồi, cô có liên lạc được mẹ và em gái của anh Thống ?
Cô không trả lời, mà lại mời vợ chồng tôi bước sang phòng bên cạnh. Căn phòng rộng, thoáng mát, có cửa kính lớn nhìn ra công viên phía trước. Một bà cụ tóc bạc trắng, nhưng da dẻ hồng hào, đôi mắt sáng, ngồi trên chiếc xe lăn. Khi tôi cúi đầu chào bà , cô gái giới thiệu:
- Anh này là bạn tù của anh Thống ở ngoài Bắc.
Rồi quay sang tôi :
- Chắc anh ngạc nhiên lắm, đây chính là mẹ của anh Thống.
Bà cụ ôm lấy tôi, nước mắt trào ra trên đôi gò má. Bà hỏi tôi về Thống trong những ngày ở tù và vì sao mà Thống chết. Nhưng tôi chỉ kể vài kỷ niệm về Thống trong những lúc vui vẻ, và không dám nói cho bà nghe về cái chết thảm thương của Thống. Tôi nói dối là Thống chết vì bệnh kiết lỵ nặng mà nhà tù không có thuốc. Tôi tưởng nói dối như vậy cho cụ yên lòng, không ngờ cụ đã khóc ngất lên. Tôi chỉ còn biết ôm vai bà cụ mà im lặng.
Một lúc sau, bà cụ mới tỉnh táo và kể lại tai nạn xe hơi đã làm chết cô con gái, em Thống và làm tê liệt đôi chân của bà. Nhìn sang cô gái, bà cụ thỏ thẻ:
- Cũng nhờ vợ chồng cháu nó đây mà bác còn sống đến bây giờ.
Nhị Anh nắm tay bà cụ :
- Má coi vợ chồng em không khác gì con ruột của má.
Em sang đây sau khi em gái anh Thống chết. Tấm ảnh trên bàn thờ lúc nãy là của cô ấy. Cô nhỏ hơn em tới sáu tuồi. Lúc ấy má đang làm chủ mấy sạp may, đã lo lắng tiền bạc cho em sang đây và cho em tiếp tục học xong đại học nữa. Ngôi nhà này là của má cho vợ chồng em đó chứ.
Vợ chồng tôi chào bà cụ, chúc bà sức khỏe và hứa bất cứ lúc nào có dịp sang Cali, sẽ ghé lại thăm bà.
Khi bắt tay từ biệt vợ chồng Hà Nhị Anh, chợt nhớ tới một điều, nên tôi hỏi cô :
- Khi nãy tôi có nghe chị nói là bây giờ tên tuổi của chị trong giấy tờ lại là tên tuổi chị Nhất Anh. Sao vậy?
Cô gái vẫn còn nắm chặt bàn tay tôi, kéo tôi ra xa, nhìn quanh rồi hạ giọng:
- Chính nhờ cái giấy của trại tù báo tin anh Thống chết, trong đó có ghi tên chị Nhất Anh là vợ, nên em đã thay chị ấy mà sang đây theo diện dành cho vợ tù nhân cải tạo bị chết trong tù. Em thấy xấu hổ lắm khi phải làm điều gian dối ấy, tội lớn lắm đối với luật pháp Hoa Kỳ, nhưng đó lại là ước mong của mẹ anh Thống, và của cả chị Nhất Anh trước khi chết nữa. Em săn sóc cho má bao nhiêu năm nay, nên má thương em như con gái má. Biết đâu đây là sự sắp xếp nhiệm màu từ chị Nhất Anh – anh Thống? Hơn nữa nhìn em cũng giống chị em lắm, và tên em với tên chị ấy cũng như nhau mà. Nhưng anh nhớ phải tuyệt đối giữ hộ cho em điều bí mật này nghe .
Vâng! Chính vì tôi đã giữ cho cô cái điều bí mật đó, nên hai cái tên Hà Nhất Anh , Hà Nhị Anh mà các bạn vừa đọc được trong truyện, đều không phải là tên thật của hai chị em nàng.

Phạm Tín An Ninh

Tuesday, January 30, 2018

Năm xưa chồng tôi là người lính - Nguyễn Thị Thanh Dương

Năm xưa chồng tôi là người lính, 
Nơi vùng lửa đạn, 
Mồ hôi anh đã đổ, 
Từ Hố Bò Bình Dương, 
Bình Long, 
Đến Thừa Thiên, 
Quảng Trị. 
Rồi một ngày anh gục ngã, 
Tại chiến trường Tây Ninh. 
Tôi góa phụ xuân xanh, 
Con thơ chưa tròn tuổi, 
Tiễn đưa anh lần cuối, 
Về nghĩa trang quân đội Biên Hòa 
Đã bao nhiêu năm qua,.... 
Bây giờ, 
Tôi ở nơi xa, 
Đã có cuộc đời khác. 
Nhưng đôi lúc nghĩ đến anh tôi vẫn khóc,
Thương tiếc xa xăm. 
Tôi về tìm mộ bia anh giữa chập chùng cỏ dại cây hoang, 
Để thắp một nén nhang, 
Nhớ người lính của một thời chinh chiến, 
Nhớ người chồng của một thuở gối chăn. 
Năm xưa chồng tôi là người lính, 
Một lần hành quân, 
Anh đã bị thương, 
Máu anh loang ướt vạt cỏ ven đường. 
Ôi, mảnh đất không tên, 
Đã giữ chút máu xương người lính trẻ. 
Đã bao nhiêu năm qua, 
Bây giờ, 
Anh thương binh tàn tạ.
Sống trên quê hương đôi khi vẫn thấy mình xa lạ, 
Bạn bè anh, 
Kẻ mất người còn, 
Kẻ quên người nhớ, 
Kẻ vô tình giữa dòng đời vất vả.
Năm xưa chồng tôi là người lính,
Nồng nhiệt tuổi đôi mươi, 
Lần đầu tiên ra chiến trường, 
Anh mất tích không tìm thấy xác. 
Mẹ anh khóc cạn khô dòng nước mắt,
Lòng tôi nát tan. 
Đã bao nhiêu năm, 
Vẫn không có tin anh, 
Anh ơi, 
dù quê hương mình đã hết chiến tranh, 
Tàn cơn khói lửa, 
Nhưng không phải là một quê hương như anh ước mơ. 
Anh đã biết chưa? 
Hỡi người tử sĩ không tên không một nấm mồ.!!! Năm xưa chồng tôi là người lính, 
Sống sót trở về sau cuộc đao binh, 
Sau những tháng năm tù tội, 
Bây giờ anh không còn trẻ nữa. 
Lìa xa quê hương, Sống ở xứ người. 
Những năm tháng chinh chiến đã đi qua, 
Nhưng vết thương đời còn ở lại, 
Trong lòng anh, 
Trong lòng những người lính năm xưa. 

Nguyễn Thị Thanh Dương

Sunday, January 21, 2018

Đại Hội Chiến Sĩ Vô Danh 2018 Tại Little Sàigòn.

Trích Yếu :
Xin cho biết ngày tổ chức Đại Hội Chiến Sĩ Vô Danh VNCH 2018 tại Little Sàigòn Nam CA.

Tham Chiếu : 
Lời hứa  vừa qua trong ngày Hội Ngộ Chiến Sĩ Vô Danh 30 tháng 4 năm 2017 tại Little Sàigòn Nam California, là Ban Tổ Chức sẽ cố gắng đáp ứng nguyện vọng của đồng bào và chiến hữu yêu cầu thực hiện Đại Hội Chiến Sĩ Vô Danh VNCH 2018.

Kính gởi:
Ban Tổ Chức Đại Hội Chiến Sĩ Vô Danh 2018
Tại Little Sàigòn, Nam California Hoa-Kỳ.

Thưa Ban Tổ Chức Đại Hội Chiến Sĩ Vô danh VNCH năm 2018,
Chúng tôi là  một số đông anh chị em đã từng phục vụ cho Quân, Dân, Cán, Chính VNCH cũng như  thuộc các Sở, Chiến Đòan, hay Đoàn của Nha Kỹ Thuật và các đơn vị Trinh sát (Recon) thuộc các Quân Binh Chủng Hải, Lục, Không Quân VNCH hiện nay đang định cư tại các tiểu bang Hoa-Kỳ nói riêng và khắp các nơi trên thế giới nói chung rất háo hức và mong mỏi được tham dự ngày Đại Hội Chiến Sĩ Vô Danh 2018  tại Little Sảigòn California, vậy kính mong Ban Tổ Chức sớm thông báo cho biết ngày, địa điểm, đưa đón, chi phí, cũng như các chi tiết cần thiết khác .v.v… để cho chúng tôi và gia đình  có thời  gian chuẩn bị tham dự Đại Hội  được dễ dàng và thuận tiện hơn.
Riêng trong năm  2018   cũng sẽ có nhiều Đại Hội thuộc các đơn vị và quân trường VNCH được tổ chức trong thời gian và không gian khác nhau tại Mỹ như Đại Hội C.TSQ 21  tổ chức vào tháng 6/ 2018 tại  Nam Cali, Đại Hội NKT 15 tổ chức  khỏang tháng 6/2018 tại Hoa Thịnh Đốn (DC).v.v… Để tránh đạp nhân lên nhau và tạo thêm tình thân ái đòan kết, do đó yêu cầu Ban Tổ Chức xắp xếp thời gian thuận tiện cho những anh em ở xa đến Hoa-Kỳ được tham dự nhiều Đại Hội mà chỉ trong thời gian giới hạn được càng nhiều nơi càng tốt.
        Chúc Đại Hội Chiến Sĩ Vô Danh 2018 được thành công và chân thành cám ơn ban tổ chức.

Kính thư
Phan Lê
Lê Văn Phan
KBC 3993.

Saturday, May 27, 2017

Hồi ký của một chiến sĩ Hải quân

Hình anh Phạm Công Nhạc trên đài chỉ huy HQ-11 (thứ ba từ bên trái) trước khi bàn giao chiến hạm cho Hải Quân Hoa Kỳ tại Vịnh Subic Bay ngày 07-05-1975.
Hành Trình SQHQ “Lưu Đày”
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi…
Phạm Công Nhạc 
Thân chuyển đến quý anh chị một bài hồi ký của một sĩ quan Hải quân cùng phục vụ chung chiến hạm với tôi, đó là cựu Hải quân Trung úy Phạm Công Nhạc.  
Bài hồi ký với nhiều tình tiết chân thực do chính tác giả viết kể lại cuộc đời phong ba bão táp của mình từ khi nhập ngũ, trôi nổi theo từng đơn vị và cuối cùng trên Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ-11. Tác giả đã theo chiến hạm di tản ra nước ngoài khi Miền Nam sụp đổ, nhưng vì lòng thương nhớ gia đình đã quyết định quay về trên con tàu Việt Nam Thương Tín để hứng chịu 5 năm 6 tháng tù đày tận Miền Bắc xa xôi. Tác giả đã xót xa kể lại đời mình khi qua đến nước Mỹ muộn màng đúng 20 năm theo diện tị nạn HO với thể chất suy nhược và không còn lứa tuổi thanh xuân, nhưng bù đắp lại có đầy đủ vợ con theo cùng.  
Dù chỉ mới lần đầu cầm bút nhưng bài hồi ký hấp dẫn không kém quyển bút ký Đỗ Lệnh Dũng mà tôi đã gửi tới anh chị hồi tuần qua.   
CĐ Lợi

Thưở trời đất nổi cơn gió bụi 
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên! 

(Chinh phụ ngâm)
Với ý nghĩ lan man không lớp lang, mà chỉ là những dòng tư tưởng chạy dài trong hồi ức, tôi tản mạn viết về quá khứ, một dĩ vãng đã chết, hôm nay chợt sống lại. Tôi không phải là môt nhà văn nên có nhiều điều sơ sót, ước mong sao nhận được sự tha thứ của anh chị em. Bây giờ tóc đã điểm sương tôi tập viết văn.
Tháng 10 năm 1974, sau khi tốt nghiệp Khóa 4 Đặc Biệt / Sĩ Quan Hải Quân Nha trang, tôi tân đáo HQ 11 (Hộ Tống Hạm “Patrol Craft Escort” Chí Linh) của Hải Đội 3 Tuần Dương thuộc BTL Hạm Đội tại Sài Gòn. (Theo chỉ thị của Bộ Tư Lệnh Hải Quân là các khóa Đặc Biệt Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang sau khi tốt nghiệp phải phục vụ trên các chiến hạm thuộc Bộ Tư Lệnh Hạm Đội hoặc trên các chiến đỉnh thuộc 5 Hải Đội Duyên Phòng tại các vùng Duyên Hải). Lúc này hạm trưởng HQ11 là HQ Thiếu Tá Nguyễn Thanh Sắc. Vài tháng sau HQ Thiếu Tá Phạm Đình San về thay thế. Những ngày cuối cùng của tháng 4/75 khi cuộc chiến trở nên mãnh liệt, hạm trưởng San chỉ định tôi làm trưởng ban Trọng Pháo kiêm trưởng khẩu 76 ly 2 sân trước. Ngoài việc đi ca (quart) nhiệm sở hải hành trên đài chỉ huy, tôi còn làm phụ tá trưởng phiên chi đội 3 do HQ Tr/úy Nguyễn Đắc Minh, khóa 25 trường VBQG làm trưởng phiên. Sau đó làm phụ tá cho HQ Tr/úy Nguyễn Lộc Thọ, khóa 21 NT, chi đội 1, (Trưởng phiên hải hành chi đội 2 là HQ Tr/úy Huỳnh Thiện Khiêm K 3/69, K1 ĐBSQ/HQNT). Nhắc đến HQ11, dù thời gian phục vụ chỉ có 6 tháng ngắn ngủi, nhưng trong tôi mang theo nhiều hình ảnh vô cùng đẹp đẽ không bao giờ quên. Từ Hạm Trưởng Nguyễn Thanh Sắc, một người hiền hòa, thân thiện, đến Hạm Trưởng Phạm Đình San, một người uy nghi, dõng dạc nhưng rất ôn tồn thi vị như một nhà thơ. Rồi một Hạm Phó Trần Đức Huân rất gần gũi, chan hòa. Nhớ những khi chiến hạm cặp bến, cùng với Thiếu Tá Huân và một vài anh em đi đánh Bi-da, cùng ăn nhậu vui đùa, tôi cảm thấy có một cái gì lâng lâng... nhè nhẹ, một cái gì xót xa... Vị Hạm Phó ấy đã ra đi... rồi...!!!
Tháng 8 năm 2016, tôi có dịp về Việt Nam may mắn được gặp lại Huỳnh Thiện Khiêm và Đinh Hùng Việt. 41 năm hội ngộ sao mà vui vậy! Cả hai nhìn bên ngoài không thay đổi nhiều, nhưng có một điều chắc chắn trong mỗi anh em chúng ta đã đổi thay nhiều lắm. Những nếp nhăn ấy thấp thoáng điểm tô trên gương mặt, đó là vết tích của bao thăng trầm, bao lo âu, toan tính... cái thành, cái bại của cuộc sống. Tôi cảm nhận được nụ cười của các bạn... anh em cũng như tôi, cái cười thực ra thì... nó méo xệch…!!! Thôi thì chúng ta còn ít nhất là một lần gặp nhau, nhìn nhau, thông cảm cho nhau, uống với nhau lon bia, ôn lại một quãng thời gian sát cánh bên nhau cho đến ngày chia tay ngoài ý muốn… xót xa...! Còn lại những con chim Đại Bàng của Hộ Tống Hạm Chí Linh, Nguyễn Thanh Sắc, Phạm Đình San; rồi Hoàng Thế Dân, Vũ đức Thiệu, Ngô Nguyên Trực, Ngô Việt Hùng, Nguyễn Lộc Thọ, Nguyễn đắc Minh, Nguyễn Ngọc A, Châu đình Lợi, Vũ Văn Huơng, anh Chí, anh Hậu, anh Ninh... họ đi đâu hết rồi... tung 4 phương trời... Tôi đã không được gặp anh em dù chỉ một phút cùng nhau tâm sự... buồn thay...! HQ11 - Một bài học dang dở vì nơi đây đang được tôi luyện về hải nghiệp thì đứt gánh, nên với tôi, hải nghiệp thực sự mà nói còn non nớt. Ngày 30/4/1975, cuộc đời tôi bước qua một ngã rẽ mới... Tháng 3 cũng là tháng có Gió Mùa Đông Bắc và như HQ Đại Tá Bác Sĩ Trần Ngươn Phiêu khi còn là SQ cấp úy, phục vụ trên HQ 10 (Nhật Tảo) cho biết là Gió Mùa Đông Bắc thổi từ Bắc Việt Nam vào Nam mang theo hơi lạnh buốt và biển động mạnh.
Năm 1974, Hải Quân VNCH nói chung và Hạm Đội nói riêng, Hải Đội 3 Tuần Dương bị thiệt hại nhiều nhất sau trận chiến Hoàng Sa (tháng 2 năm 1974) với Hải quân Trung Cộng. Ngoài việc đối phó với Việt Cộng bên trong, và bên ngoài là bọn giặc Trung Cộng, lại còn phải yểm trợ Bộ Binh trên đất liền và bảo vệ lãnh hải cùng vùng biển Đông rộng trên 1 triệu cây số vuông với đội tàu khiêm nhường, cũ kỹ, trước thời đệ nhị thế chiến… thật là những cố gắng phi thường! Theo như HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc từng cho biết, thì Cộng Sản Bắc Việt với sự yểm trợ của Trung Cộng và Liên Xô, dự tính sẽ tấn công Miền Nam bằng Hải Quân. BTL Hải Quân chỉ thị Đại Tá Ngạc lo chương trình huấn luyện tác chiến cho các Hải Đội Duyên Phòng và Hạm đội. Trong năm 1974 và 1975, HQ 11 cùng với các chiến hạm khác bận rộn công tác vùng 1, 2 và 3 nhiều nhất. Khi HQ 11 xong chuyến công tác này, về bến, nhận tiếp tế trong vòng vài ngày sau đó lại phải ra khơi… Tháng 3 năm 1975, HQ 11 tham gia yểm trợ và di tản ZĐ 21 tại Đề Gi vào Qui Nhơn. Ngày 1 tháng 4, 1975, yểm trợ và di tản HQ cùng SĐ 22 BB từ Qui Nhơn về Cam Ranh. Rồi ngày 2 tháng 4 di tản Nha Trang, Cam Ranh về Vũng Tàu. Tại Cát Lở (Vũng Tàu), HQ 11 được nghỉ vài ngày để nhận tiếp tế đạn dược, dầu nhớt, nước ngọt và lương thực, xong lại ra Phan Rang yểm trợ tuyến phòng thủ cùng với các chiến hạm khác hôm 15 tháng 4, 1975.
Tháng 4 ngày 17 năm 1975, tuyến phòng thủ Phan Rang rơi vào tay Việt Cộng. 
 
Trận chiến tại vùng biển Cà Ná.
 Vịnh Cà Ná nằm ở vị trí 30km hướng Nam thị trấn Phan Rang, có quốc lộ 1 chạy song song với bờ biển dài 3km, có cây cầu tên gọi Núi Đá Chẹt, quận Tuy Phong. Đêm 17 tháng 4, 1975, chiến hạm đã bắn vào đoàn xe VC thật dài nối tiếp nhau chạy dọc theo quốc lộ, mở đèn pha tạo nên một vệt sáng mà tôi có cảm giác như bất tận chạy về hướng Nam tiến về Phan Thiết.
Chiều ngày 17 tháng 4, 1975, HQ 11 được lệnh yểm trợ hải pháo triệt hạ cây cầu trên Núi Chẹt, ngăn chặn địch quân tiến về Phan thiết, cùng giúp HQ 503 vớt quân cán chính VNCH tràn ra bãi biển tìm phương tiện di chuyển. Lúc này Hạm trưởng Phạm Đình San muốn tác xạ hiệu quả nên cho lệnh HQ 11 chạy vào sát bờ bắn trực xạ để triệt hạ cây cầu. Lúc đó 4 chiếc T54 từ hướng Bắc xuất hiện nã đại bác 100 ly ra tàu.
Chiến hạm bị trúng đạn khi quay mũi ra khơi. Một phát xuyên hông từ bên tả hạm xuyên qua hữu hạm. Thượng Sĩ nhất Vô Tuyến Nguyễn Văn Bàng tử thương, cùng 2 thủy thủ bị thương. Nhắc đến anh Bàng, anh em không khỏi bùi ngùi nhớ lại hình ảnh của một chiến sĩ đã ra đi vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Anh đã kém may mắn hơn nên chúng ta không bao giờ còn có thể nghe được tiếng nói, nhìn thấy nụ cười nơi anh nữa! Nhưng anh Bàng có môt cái may mắn mà anh em mình không có được, đó là anh đã thực sự chết cho quê huơng. Cái vinh dự vô cùng to lớn là Tổ Quốc Ghi ơn anh. Nhắc đến HQ 11, chúng ta có thể quên người này, người khác, quên anh, quên tôi nhưng không thể quên được anh Bàng. Đêm đó, thủy thủ đoàn HQ 11 tập họp nơi sân lái để cử hành lễ nghi quân cách chào tiễn biệt anh Bàng trước khi chuyển sang HQ 608 đưa về Sài Gòn.
Hạm Trưởng Phạm Đình San, một con người cứng cỏi là vậy mà cũng nước mắt tràn trề, thốt lên một bài điếu văn dâng trào xúc cảm. Mọi người phải cố nén lòng để không phải cất lên tiếng nấc… Thế mới biết trong mỗi con người anh em chúng ta, có những lúc vô cùng mạnh mẽ, nhưng rồi một lúc nào đó mình lại yếu đuối biết bao. Chúng ta không ngăn được giòng lệ trước sự mất mát của những người bạn đồng ngũ, những người cùng màu cờ sắc áo vừa mới đây còn trò truyện, còn đùa giỡn với nhau, mà bỗng chốc họ đã vĩnh viễn ra đi... Đó là một hình ảnh thật buồn nhưng cũng thật đẹp, tràn trề tình người, đầy tính nhân bản của người lính VNCH… Đảo Phú Quý Tháng 4 ngày 24, 1975, HQ 11 nhận chỉ thị ra tuần tra đảo Phú Quý (Cù Lao Thu, ngoài khơi Phan Thiết). Trong ngày đầu, tình hình trên đảo rất an ninh. Sáng ngày 26 tháng 4, HQ 11 kéo còi nhiệm sở tác chiến từ lúc 5 giờ sáng sau khi mất liên lạc với xã Phú Quý trong bờ, và HQ 712 báo cáo bị tàu VC tác xạ bằng thượng liên khi hai chiến hạm chúng ta đang chạy tuần tiểu quanh đảo. Đảo rơi vào tay Việt Cộng (theo vài nhân viên chi khu Phú Quý thoát được ra tàu cho biết). Trời mờ sương, hằng trăm ghe tàu rời đảo tiến ra khơi. Những ghe nhỏ hướng về HQ 11. Trên mỗi ghe có 3 người mặc đồ xanh cứt ngựa (trông rất lạ, không như dân đi biển). Lúc này, 2 pháo 40 ly giữa sân do HQ Tr/uý Ngô Nguyên Trực (khóa 20 NT) tiếp tục thi nhau nhả đạn. Mấy chục chiếc ghe bao vây tấn công. HQ 11 bị trúng đạn tan tác, tơi tả và nhanh chóng biến mất khỏi tầm ngắm của chiến hạm.
Trước đó, pháo 76 ly 2 được lệnh bắn trực xạ vào trụ sở Hội Đồng Xã đang bị Cộng Sản chiếm giữ sau khi VC bắn 81 ly ra tàu HQ 11. Trụ sở bị trúng đạn, địch quân chạy túa ra các nhà xung quanh. Khẩu 76 ly 2 nhả liên tục hằng trăm viên đạn, đỏ cả nòng súng. Bất ngờ súng bị trở ngại tác xạ vì khi đạp cò thì viên đạn không nổ, kẹt trong nòng súng. Một phụ xạ thủ hoảng chạy khỏi nhiệm sở tác chiến. Phản ứng tự nhiên của một trưởng khẩu, trong khoảnh khắc, tôi chụp áo nhân viên đó và kéo quay trở lại khẩu 76 ly 2 (thú thật, trong lúc hoảng sợ tôi cũng chưa biết phải làm gì, cũng như chưa được huấn luyện phải làm gì khi tình huống như thế này xẩy ra). Một nhân viên kéo cơ bẩm, nhân viên khác đưa 2 tay có đeo găng bằng da ra đón viên đạn, ném xuống biển. Ngày 28 tháng 4, 1975, HQ 11 về Sài Gòn. Trong lúc neo phao giữa sông đã chứng kiến cảnh các phi cơ A 37 oanh kích phi trường Tân Sơn Nhất lúc 6 giờ chiều cùng ngày… Ngày 29 tháng 4, 1975, HQ 11 vào cập cầu L. Thành phố Sài Gòn lệnh giới nghiêm 10:00 giờ tối. Đêm đó khoảng 9 giờ, Hạm trưởng Phạm Đình San tập họp toàn thể nhân viên và tuyên bố anh em được phép rời tàu để về đón thân nhân, và tự do chọn việc ra đi hay ở lại. Một nửa quân số chọn trở về với gia đình. Phần còn lại chọn theo tàu ra khơi (tổng cộng quân số của HQ 11 vào khoảng 80 người). Đây là giây phút đặc biệt. Như đàn ong vỡ tổ, mọi người tung chạy vội vã trong không khí hoang mang. Người vội vàng thu xếp hành trang để về tìm kiếm gia đình, kẻ thì xăn tay áo để ra đi. Tôi lạc lõng chơi vơi... về phòng mà tâm tư rối bời. Tôi không biết rằng lúc đó vợ và con tôi đã lên Saigòn. Nếu biết, chắc chắn tôi đã rời chiến hạm…
Con tàu tách bến di tản lúc 11:00 giờ đêm 29 tháng 4, 1975. Tôi đã ở lại HQ 11 cùng anh em. Nuốt nước mắt mà ra đi, một chuyến đi khắc nghiệt theo vận nước nổi trôi; mà rồi chuyến về còn nghiệt ngã gấp nghìn lần... Vâng, tôi đã về, về trên con tàu định mệnh Việt Nam Thương Tín. Đó là cái giá mà tôi phải trả... và đã trả sau này…! Theo tàu ra Côn Sơn, rồi tới Subic Bay (Phi Luật Tân), và sau cùng lên thương thuyền Green Way của Mỹ mà vào Guam. Những ngày đầu tại Guam, tôi ở trong một căn lều cùng một vài anh em. Ngày ngày đi lãnh thực phẩm, rồi dạo quanh trên những con đường trong trại Orote Point. Một hôm trong lúc đang chơi bóng chuyền (vào tháng 5 năm 1975), một bài hát của Nhạc sĩ Lam Phương có tên là “Chuyến đò vĩ tuyến” cất lên từ những loa phóng thanh trong trại:
 
Đêm nay trăng sáng quá anh ơi,
Sao ta lìa cách bởi giòng sông bạc hai màu!
 
Tiếng hát như xé lòng người, vang lên trên các loud speakers của chương trình phát thanh trong trại tỵ nạn ở Guam do Kim vui phụ trách. Tôi rời sân bóng chuyền mà lòng buồn rười rượi. Nơi đây có người may mắn có gia đình cùng đi. Nhiều người vui khi họ nghĩ đến một ngày mai tươi sáng với những tiếng cười rộn rã, những háo hức để được đi vào lục địa. Tôi đơn độc, lạc lõng trong cái vui nhộn ấy… Tự nói với lòng, phải về, phải về thôi… Trong khi mình đang sống thừa thãi vật chất nơi đây, thì gia đình mình hiện giờ ra sao? No, đói thế nào? Mình phải về để cùng san sẻ niềm vui, nỗi buồn cùng gia đình, dù có phải chịu đựng những khổ cay, nhọc nhằn... Rồi có những chiều ra ngồi trên bãi biển hướng về cuối chân trời, hình dung ngôi làng ở miền quê, kinh B, Cái Sắn, nơi mà tôi hằng yêu thương gắn bó với biết bao kỷ niệm êm đềm của tuổi học trò. Nơi xa xăm thăm thẳm ấy, thân nhân ruột thịt mình đang sống ra sao? Ước sao ta có cánh chim để tung về tổ ấm! Nhưng vô vọng... quả là “ngày về xa quá... người ơi!!! Mà quả thực, làm sao để có thể về được, khi tình hình bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã hoàn toàn bị cắt đứt! Cho nên với tôi, con tim đã hoàn thắng lý trí… Và rồi tôi đã theo con tàu Việt Nam Thương Tín để: TUNG CÁNH CHIM TÌM VỀ TỔ ẤM... Tiếc thay...!!! Có điều, tôi không biết là tôi phải đi tù đến 5 năm 6 tháng. Quả là tôi quá thơ ngây, một bài học với cái giá quá đắt!!! Cũng nơi đây còn lắng đọng vài kỷ niệm nho nhỏ: ***Chuyện thứ nhất:
Tôi đến Guam ngày 13 tháng 5 năm 1975. Một vài ngày sau đó, tôi nghe trên các loa phóng thanh trong trại phát ra: Hải Quân Trung Úy Ngô nguyên Trực, HQ 11, hãy đến khu số... lều số… gặp thân nhân, em và con đang trông chờ. Nhiều lần trong ngày lập đi, lập lại như thế. Nhưng tôi biết Trực không thể nào đến để gặp vợ con được, vì Ngô nguyên Trực, đã nhảy lên bờ về tìm vợ con, sau khi Hạm Trưởng Phạm đình San tập họp cho phép anh em về tìm thân nhân đêm ngày 29 tháng 4 năm 1975. Tôi hình dung cảnh mà Trực về nhà, cửa đóng im ỉm, đã tông cửa để vào nhà... rồi ra sao...??? Nếu ta là Trực ta sẽ như thế nào...? Thất vọng? Hoảng hốt? Hay sao… và sao nữa… rồi đi đâu...??? ***Chuyện thứ hai: Sáng hôm đó, tôi đang đi dạo dọc theo bìa rừng bên cạnh trại, văng vẳng tiếng từ loa phóng thanh: Hải Quân Trung Úy Phạm Công Nhạc, HQ 11, hãy đến khu số... lều số... gặp Trần quang Dũng. Tôi không biết Dũng là ai, tưởng anh em đùa giỡn nên không quan tâm. Nhưng nhiều lần như thế, và vì tò mò tôi đã đến. Khi đến lều tôi hỏi:
- Ở đây có ai tên Trần quang Dũng không?
- Bộ anh không biết tên tôi sao?
Đó là câu trả lời của người em vợ tôi, mà quả nhiên là tôi không biết tên thật, vì tên ngoài đời là: Bình. Có bao giờ một ai đó lấy vợ cả năm trời mà không biết tên người em vợ của mình? Xin thưa, người ấy chính là tôi. Thật là tếu...
Nhớ khi xưa lúc tôi vào quân trường Thủ Đức khóa 3/70 (theo lệnh tổng động viên), thuộc Đại Đội 23, Tiểu Đoàn 2, (một trong những huynh trưởng dẫn dắt đại đội của tôi là LĐ 6/69 Bùi đức Ly), sau khi mãn khóa 3/70, vì nhu cầu Việt Nam Hóa chiến tranh và sự chuyển giao 3000 chiến hạm chiến đỉnh của Hải Quân Hoa Kỳ (bỏ của chạy lấy người) qua cho Hải quân VNCH, trong khi SQ Hải Quân VNCH lúc đó dưới cờ chỉ có vào khoảng trên dưới 1000 Sĩ Quan. BTL Hải Quân xin BTTM/QL/VNCH tuyển thêm SQ tốt nghiệp Thủ Đức có bằng Tú Tài 2, ban toán trở lên, và trường BB Thủ Đức đã lập danh sách chuyển qua Hải Quân. Tôi được người bạn cùng khóa tên Huỳnh Văn Tư (đến nay tôi ước ao đươc gặp mà không được vì không có tin tức gì về anh) bỏ công viết đơn cho tôi, tôi chỉ việc ký tên vào đơn và đem nộp. Tôi được chọn trong danh sách hơn 20 SQ tốt nghiệp K 3/70 chuyển qua Hải Quân. Sau khi trình diện BTL Hải Quân, tôi được lệnh tân đáo CCHQ/Tân Châu. Khoảng một năm sau thuyên chuyển về Giang Đoàn 64 Tuần Thám đóng chung tại Căn Cứ Hải Quân Tân Châu. Chỉ Huy Trưởng là HQ Đ/Úy Võ văn Bảy (Tức nhà văn Vũ Thất). Vào tháng 10 năm 1970, nơi đây một thời gian khá dài tôi sống chung một phòng với HQ Ch/Úy Bùi Danh Môn, khóa 5 OCS, mà giờ đây tôi đã may mắn được gặp lại, cùng với HQ Ch/úy Hồ Ái Việt Khóa 20 NT.  
 
Tháng 11 năm 1971, Giang Đoàn 64 TT chuyển về hoạt động tại Tuyên Nhơn, Mộc Hoá. Vị CHT Giang Đoàn 64 TT lúc bấy giờ là HQ/Thiếu tá Châu Văn (Khóa 10 NT). Phần tôi, với tư cách là SQ tuần tiểu, rồi SQ phân đội phó, rồì phân đội trưởng. Sau đó HQ Thiếu Tá Nguyễn Thiện Từ (Khóa 12 NT) về thay HQ Th/Tá Châu Văn. Một thời gian sau tôi được chỉ định làm Trưởng Khối Hành Quân. Trưởng khối Chiến Đỉnh là HQ Tr/Úy Trịnh Duy Kiểm (khóa 6/69 và khóa 12 OCS). HQ Tr/úy Ngô Bá Nhẫn làm trưởng khối Yểm Trợ GĐ 64 TT… Hôm nay tôi cũng được may mắn gặp lại HQ Th/úy Phạm Anh Dũng khóa 19 NT, trưởng khối hành quân trước tôi, thời HQ Th/Tá Châu Văn làm CHT. Buổi tối ở Tuyên Nhơn trong những ngày gần Tết, những cơn mưa không đủ thấm đất nhưng tạo thành lớp bùn, đủ để dính giầy khi đi bộ ra cổng chính và đi bộ về khu gia binh. Những ngọn đèn điện lù mù thảm hại. Nhìn lên cao, cột antena thật cao với ánh đèn đỏ chớp tắt. Những mái tole cũ kỹ và khu nhà toàn ván ép sơn mầu xám đậm. Một vài ánh đèn điện mầu vàng từ khu gia binh tẻ nhạt và xa cách loài người, dù chỉ hơn 10 Km đường chim bay, thị xã Long An. Tuyên Nhơn phố thị Đi thẳng theo đường lộ để ra quận. Quận Tuyên Nhơn mà BCH nằm ngay bên cạnh căn cứ HQ chỉ cách một hàng rào kẽm gai... Nếu rẽ qua cổng phụ bên phải để vào nhà bàn, mà Hải Quân thường gọi là nhà bếp và phòng ăn đoàn viên. Đây cũng là nơi hội họp hoặc sinh hoạt văn nghệ khi cần.
Tuy căn cứ chỉ chạy dài 300 mét theo con kinh Lagrand (mà dân nhà binh thường gọi đùa là chiều ngang con kinh đứng bên này đi "tiểu" sẽ qua bên kia bờ). Các binh sĩ ở đây chỉ có một niềm vui sau khi đi hành quân về là vào câu lạc bộ (do quân nhân đơn vị làm chủ), không có bông hồng ngoại trừ đi bộ ra chợ, nhưng cũng chỉ để ăn hàng vặt, hoặc theo tàu ra chợ Kiến Tường để có dịp nhìn vài bông hồng thôn dã. Chưa ai có bồ ngoại trừ một số anh em can đảm, nhưng cũng chưa thấy đám cưới nào được tổ chức nơi làng xã quanh vùng, với những chàng thuỷ thủ hào hoa như những đơn vi khác. Câu Lạc bộ HQ, nghe thì xôm tụ, mì gói có tí thịt heo luộc sẵn làm chuẩn. Tại đây, cũng chỉ có một bàn Bi Da do QĐ/HK để lại. Các quân nhân cứ 4 tuần thì được đi phép một lần. Còn SQ thì thay phiên nhau khoảng 6, hoặc 7 tuần. Cuộc sống ở đây, các SQ thay phiên nhau đi tuần. Công tác tuỳ theo 2 ngày, ngoại trừ biệt phái đi Mộc Hoá, thì cả tháng mới về lại đơn vị. Nhiều khi các giang đỉnh đụng trận thì Chỉ Huy Trưởng sẽ đem 4 giang đỉnh trực đi tiếp cứu và yểm trợ, bất kể ngày đêm. Tuần tiểu, hộ tống, yểm trợ, phục kích… Trong giai đoạn này, tôi được huy chương anh dũng bội tinh với ngôi sao bạc trong một chuyến tuần tiểu trên sông Vàm cỏ Tây khi đụng trận với Việt Cộng. Đích thân tôi đã nhảy xuống tịch thu 1 khẩu AK 47 trên một chiếc xuồng 3 lá. Nhắc lại Giang Doàn 64 Tuần Thám, một duyên hạnh ngộ vô cùng quý giá.
Vốn là tháng 9 năm nay (2016), Hà văn Hải (khóa 8 OCS), trước kia là Sĩ Quan Nội Vụ, kế đến là Trưởng Ban Tiếp Liệu, từ Boston về Texas, gia đình 64 có những buổi gặp gỡ vô cùng nồng ấm. Con chim đầu đàn HQ/Thiếu Tá Nguyễn Thiện Từ cùng phu nhân không tiếc công sức để hoàn thành một đĩa DVD cho những ngày đón tiếp Hải. Vợ chồng Ngô Bá Nhẫn ân cần mời anh chị Hải về nhà nghỉ ngơi như anh em ruột thịt. Tình người, tình anh em, tình chiến hữu sao mà đẹp đến vậy... Vui là vậy, nhưng buồn sao mà khó diễn đạt... HQ/Đại Úy Nguyễn Đức Khải, Chỉ Huy Phó Giang Đoàn đã ra người thiên cổ, năm 1974. Khi tôi về HQ 11, Ngô Bá Nhẫn (lúc đó đã về Biệt Khu Thủ Đô) đã tìm tôi và thông báo tin chẳng lành... Tôi cùng Nhẫn đã đi phúng điếu một vòng hoa tiễn vị Chỉ Huy Phó thân yêu, tiễn một người anh đã vĩnh viễn ra đi... Trở lại hôm nay, tôi cám ơn Đinh Văn Nguyên (khóa 1 OCS) vẫn thường xuyên gọi điện thoại thăm hỏi. Có những câu nói của anh làm tôi suy nghĩ. Ví như: - Tao gọi cho mày trước hết là hỏi thăm, sau là “Điểm Danh” xem ai còn, ai mất. Tôi biết Nguyên đùa nhưng cũng có một cái gì buồn buồn, mang mác... Rồi Nguyên kể lại: Hồi đó mày đâu biết chuyện gì xảy ra ở đơn vị, anh em rất thương mày. Khi mày bị VC bắn, tao biết tin và la lớn.
- Ê, thằng Nhạc bị bắn, mau đi cứu nó. Thế rồi được lệnh của Chỉ Huy Trưởng, anh em đã tức tốc xuống tàu để đi tiếp cứu... Nghe kể lại, một niềm an ủi tràn dâng trong tôi. Mừng lắm, vì sống mà có được người thương mình thì còn niềm vui nào lớn hơn… Năm 1974, tôi từ giã GĐ 64 TT về Nha Trang theo học khóa 4 Đặc Biệt SQHQ NT. Bài tập viết văn chắc là cũng sắp hết, muốn nhân cơ hội này để tếu với các bạn một chút: *** Người ta có rất nhiều nơi để đến. Tôi cũng đã ngụp lặn, bay nhảy nhiều chốn, vui buồn đan chéo lên nhau. Nhưng nơi đến lần cuối không phải là nơi mà tôi chọn mà đó là nơi của định mệnh, đảo Guam... Nơi đây, lạc lõng, bơ vơ. Tôi có cảm giác như tất cả những gì quanh tôi đều xa lạ! Mỗi người mang một tâm tư riêng! Với tôi, chỉ còn một chốn để quay về... Nơi ấy, dù tôi có thành công hay thất bại, hay bất cứ điều gì tệ hại nhất đến với tôi, thì vẫn có những người thân yêu của tôi hân hoan đón nhận; và chắc chắn nếu ngày ấy đến, nước mắt sẽ tuôn trào và ngập tràn hạnh phúc... Có điều ngày tôi về hoàn toàn khác hẳn với giấc mơ, nó đã hoàn toàn vỡ vụn... Tôi đã tình nguyện ghi tên theo tàu VN Thương Tín trở lại quê nhà…
Thời gian này kéo dài gần 6 tháng tại Guam. Có lẽ chính phủ Hoa Kỳ muốn kéo dài thời gian cho những người muốn trở về có cơ hội lắng đọng để suy nghĩ chín chắn hơn, nên viện cớ tàu VN TT đang sửa chữa và huấn luyện thủy thủ đoàn. Những người muốn trở về bị dằn vặt với ý nghĩ đi hoặc ở, nên nhiều lúc muốn nổi loạn. Ngày trở về, chính phủ Mỹ cho một ân huệ chót là từng người một được đưa vào một căn phòng và được phỏng vấn riêng. Nếu muốn về VN thì được dẫn qua phòng dành cho người về. Nếu muốn ở lại vào Hoa Kỳ thì được một nhân viên hộ tống vào phòng khác (sợ bị nhóm kia làm áp lực), và chờ lên máy bay vào đất liền Hoa Kỳ. Tôi chọn nhóm 1 trở về VN không ngần ngại. Trên đường về VN, vượt biển Tây Thái Bình Dương vào Biển Đông, tôi không phụ trách công việc hải hành của thủy thủ đoàn nên tự do ăn ngủ, và đầu óc vẽ ra những nỗi vui mừng khi gặp lại vợ con và người thân… Văng vẳng đâu đây tìếng hát với phím đàn Phạm Duy trong Tâm ca số 7 (1965)…
Kẻ thù ta đâu có phải là người
Giết người đi thì ta ở với ai…
Lời nhạc đã giúp tôi cảm nhận thấu đáo những lời vàng ngọc trong bài kinh Pháp Cú: Hận thù diệt hận thù; Đời này không thể có Từ bi diệt hận thù; Là định luật ngàn thu.
Rồi việc gì đến cũng sẽ đến. Khi ngọn hải đăng Vũng Tàu quét từng đợt trên nền trời đen thẫm hướng phía Tây trước mặt, tàu VN TTín về và vào neo tại bãi trước Vũng Tàu vào cuối tháng 10 năm 1975. Tàu chúng tôi chưa biết phải làm gì vì chưa nhận được tin tức gì về phía chính quyền VN. Đến trưa thì phía Việt Nam cho 1 chiến hạm mang số 13 nhưng sơn màu xám đậm. (Nguyên là PCE HQ 13 của HQ VNCH bỏ lại vì khi di tản, HQ 13 lúc đó đang sửa chữa tại Sài Gòn). Một số giới chức CSVN lên tàu VNTT. Sau đó tàu mang số 13 dẫn đường và tàu VNTT theo sau rời khỏi Vũng Tàu và trực chỉ hướng Bắc. Mọi người trên tàu VNTT không biết đi đâu, nhưng dân HQ thì biết rõ, vì cận duyên. Tàu VNTT cập Cầu Đá Nha Trang. Từng đoàn xe vận tải Molotova chở thẳng chúng tôi vào Ty Cảnh Sát Nha Trang. Ở đây khoảng 3 tháng rồi chuyển đến trại tù Xuân Phước (hay còn gọi là trại A 20) làm cải tạo viên. Thực chất là tù nhân tại đây và bắt đầu đón nhận những đòn thù trong suốt hơn 1 năm. Sau đó tôi có tên trong danh sách được gọi lên. Tưởng được tha về, khoảng 120 người chúng tôi lại bị đẩy lên xe Molotova bít bùng chở ra Bắc vào trại Trung Ương số 3, và bị cải tạo thêm hết 4 năm rưỡi nữa mới được tha về Sài Gòn.
Cùng với anh em chuyển ra Trại Cải tạo Trung Ương số 3, Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh, trong số này có nhạc sĩ Trường Sa, HQ/Trung Tá Trần Đình Trụ. Có ít anh em Hải Quân một thời gian sống chung phòng với tôi như: Thiếu Tá Trị, Thiếu Tá Huỳnh Hữu Sương, Tr/ úy Bùi Ngọc Nở (Khóa 19 NT), Tr/ úy Bùi Trọng Khải (OCS), Đ/úy Nguyễn Tư (Khóa 19 NT), Đ/úy Nguyễn Thanh Tòng... Thời gian nơi đây tâm tư nặng trĩu. Trước mắt là một tương lai mờ mịt, đen tối... Có những lúc tôi lo sợ chính tôi, lo sợ mình không kiểm soát được chính mình...
Có một lần vào buổi sáng khi ra đồng làm việc, một anh bạn tù, nói nhỏ với tôi:
- Ê, đêm qua anh ngủ mớ sảng, nói thấy ghê quá!
- Tôi nói gì?
- Anh nói: Làm người phải có trái tim, nếu không có trái tim thì không phải là con người.
Tôi giật mình, lo sợ, vì cái gì sẽ xảy ra nữa đây? Vì tôi không thể kiểm soát được mình trong giấc ngủ. Rồi miên man suy nghĩ, sao mình lại có thể nói được một câu hay đến như vậy. Ngay đến bây giờ tôi vẫn không thể nói được một câu có ý nghĩa như thế. NỖI LÒNG NGƯỜI ĐI Tôi muốn nhắc đến bản nhạc này vì đây là một trong những bài tôi rất thích trước năm 1975. Vốn là ngày hôm đó, đội tôi kết hợp với một đội khác trong tù có nhiệm vụ đắp con đê. Anh em đứng hàng một và chuyền tay nhau từng khoanh đất từ dưới lên cao. Bất ngờ, có một người tách ra khỏi dây chuyền bước lên đỉnh con đê, cởi áo, khoác lên vai, tay chân múa may, nghêu ngao: (Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu. Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều. Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ? Ai đứng trông ai ven hồ, khua nước trong như ngày xưa…)
Tôi vừa làm vừa lắng nghe, để hết tâm tư mình qua dòng nhạc. Nhưng bỗng giựt mình khi nghe anh hát: (Hôm nay Sài Gòn ĐÂU BAO (thay vì bao nhiêu) tà áo khoe màu phố vui? Nhưng riêng một người tâm tư sầu vắng đi trong bùi ngùi. Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời. Tôi hái hoa tiên cho đời, để ước mơ nên đẹp đôi. Tôi thật sự xúc động. Thầm nghĩ mình đang ở nơi đây, còn nơi kia, nơi mà bao năm tháng tôi đã lăn lộn theo dòng thời gian trôi nổi; Nơi tôi có biết bao kỷ niệm, từ lúc còn cắp sách đến trường, cho đến ngày mặc áo chiến binh. Ngày đó vô cùng đẹp, vô cùng thân thuơng. Biết bao tà áo trong ước mơ, đẹp biết chừng nào! Nhưng giờ đây... ĐÂU... ĐÂU có còn nữa, phải không??? Thật buồn và chua chát thay! Người hát bài ấy là anh Trọng, một Thiếu Tá Lục Quân. Mọi người đều cho là anh ấy “mát”, kể cả công an trong trại. Chính vì thế mà anh ấy mới hát được, mà không bị cùm. Nhưng với tôi anh ta “mát” một cách đáng phục... *** Cũng trong thời gian này tôi được gặp các vị dân biểu VNCH, như Giáo Sư Trần Hoàng, Huỳnh Bút, Nguyễn Luận, Nguyễn Bá Cẩn, Võ Trạng, Nguyễn Ấn... Chính bác Ấn là người đã tâm sự và an ủi tôi rất nhiều khi tôi tỏ ý bi quan cho ngày mai... Giờ này không biết những vị dân biểu này ai còn ai mất…?!
Cho nên hôm nay đôi lúc đùa giỡn, tôi ba hoa cùng anh em là tôi có thời đã từng có Việt Cộng mang sao đàng hoàng làm escort cho tôi... Đó chính là tư tưởng của dân biểu Ấn an ủi những lúc tôi chán nản, bi quan, trong thời gian tù tội ở Trại Cải Tạo Trung Ương số 3 (Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh). Nhìn lại đoạn đường từ Guam về VN hơn 5000 cây số để được nhìn lại vợ con, tính ra cái giá để đoàn tụ mà tôi đã trả kéo dài tổng cộng gần 6 năm. Ra khỏi trại tù năm 1981. Năm 1995, tôi được chính phủ Hoa Kỳ chấp nhận cho trở lại vào Mỹ theo diện HO 34. Sau cơn mưa trời lại sáng. Đúng vậy, những ngày đầu tiên đến đây, mọi sự việc trước mắt hoàn toàn xa lạ, bỡ ngỡ. Tôi dọ dẫm từng bước chân đi sao mà cảm thấy nặng nề đến vậy. Tôi đang ráng hết mình lẽo đẽo tập đi, mà lý ra tôi đã đi 20 năm về trước. Ngày đó, tôi còn là một thanh niên, sức khỏe dồi dào; nhưng hôm nay, có thể nói là thân tàn ma dại. Tôi bắt đầu lại bài học vỡ lòng của 20 năm về trước. Rồi thời gian, thời gian là một liều thuốc vô cùng huyền diệu để chữa lành mọi vết thương. Hôm nay, tóc đã điểm sương. Nhìn lại quãng đời đã qua, cảm thấy mừng mình đã thoát qua những giai đoạn vô cùng gian truân. Hình như có một cái gì đó vô cùng thiêng liêng đã dẫn dắt tôi đi... Quỳ xuống, chắp tay lại... thì thầm tạ ơn…
Bài tập làm văn đầu tiên trong đời của tôi đến đây, xin phép được đặt dấu chấm... và hết… Nhưng có lẽ trước khi anh em gãi đầu, gãi tai vì bài viết dở ẹc này, chúng ta hòa mình cùng nghe đôi dòng tâm sự của người lính biển đang lênh đênh trên con tàu cho lòng được nhẹ nhàng, bay bổng, vui tươi… kèm theo một bóng mờ, xa khuất cuối chân trời, chất chứa trong tim… BIỂN TUYẾT của Tác giả: Anh Thy Sóng cao giăng đầy, con tàu ngả nghiêng trong vòng mưa bão... Rồi tàu lạc bến, lênh đênh trôi dạt theo sóng vào miền tuyết băng... Tuyết rơi ngăn đường về để tàu anh đi lạc lối, Tuyết xinh như lần đầu mình gặp nhau dưới đêm trăng. Em nghe không? Lạnh lùng trong tuyết giá anh nhắc tên người mình yêu... …… Thế rồi chiều nay, tàu anh, đi trong biển tuyết. Lặng nhìn màn tuyết, giăng giăng trong chiều vây chiến hạm trong lối đi… Tuyết rơi rơi thật nhiều đọng đầy vai anh phủ kín. Ngỡ em anh lại gần gục đầu cho ấm tim côi. Nhưng em ơi, tình mình như tuyết trắng đem giá băng vào lòng nhau...
 
Phạm công Nhạc
Houston, 2016
Khóa 3/70 Trường Bộ Binh Thủ Đức
Khóa 4 Đặc Biệt Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang
Tài liệu tham khảo:
HQ 11 trận Cà Ná của Vũ Ngọc Văn (Châu Đình Lợi, Úc Châu)
Black April book của George J. Veith  
Hoài Niệm SQHQLĐ trang 163